Giới thiệu bộ môn Trắc địa

Tại Trường Đại học Thủy lợi, ngành Kỹ thuật Trắc địa-Bản đồ được đào tạo bởi đội ngũ giảng viên trình độ cao, dày dạn kinh nghiệm của Bộ môn Trắc địa, Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước. Các sinh viên ngành Kỹ thuật Trắc địa-Bản đồ sau khi tốt nghiệp sẽ có cơ hội làm việc tại các cơ quan nhà nước, các cơ sở giáo dục/nghiên cứu, các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong các lĩnh vực như: quản lý đất đai, địa chính, bất động sản, xây dựng, tư vấn giám sát, khảo sát địa hình, viễn thám và GIS.

I. Chức năng nhiệm vụ

+ Phụ trách đào tạo ngành Kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ

+ Giảng dạy môn Trắc địa phục vụ đào tạo một số ngành khối kỹ thuật trong trường Đại học Thủy lợi.

+ Giảng dạy một số môn trong Chương trình tiên tiến: Trắc địa, Áp dụng kỹ thuật GIS và GPS

+ Giảng dạy môn Viễn thám và GIS ứng dụng, phục vụ đào tạo cao học một số ngành kỹ thuật.

+ Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực trắc địa bản đồ, xử lý dữ liệu viễn thám và GIS; quản lý, giám sát tài nguyên môi trường; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai..v.v.

+ Thực hiện các dự án khảo sát địa hình, các công tác trắc địa phục vụ quy hoạch, thiết kế, thi công và vận hành các công trình giao thông, thủy lợi, xây dựng dân dụng và công nghiệp..v.v.

II. Quá trình hình thành và phát triển

          Tiền thân của Bộ môn Trắc địa-Trường Đại học Thủy Lợi là tổ môn ghép “Trắc lượng – Hình họa” của Học viện Thủy Lợi, được thành lập 10-1959. Trưởng tổ môn là thầy giáo Nguyễn Đồng Hợi (thân sinh ra Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình). Tổ môn hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc Học viện Thủy Lợi. 

          Năm 1963, Bộ môn Trắc địa có quyết định chính thức thành lập và trực thuộc khoa Thủy nông (nay là Khoa Kỹ thuật Tài nguyên Nước). Biên chế lúc đó gồm 3 giảng viên: 

          1. Đào Duy Liêm, Kỹ sư - Trưởng Bộ môn phụ trách giảng lý thuyết. 

          2. Nguyễn Thả, Giáo viên Trung cấp Trắc địa, phụ trách hướng dẫn thực tập Trắc địa. 

          3. Dương Đức Nhâm – Giáo viên Trung cấp Trắc địa, phụ trách phòng máy Trắc địa và hướng dẫn thực tập Trắc địa, phục vụ sản xuất. 

          Từ 1965-1967: Bộ môn Trắc địa được bổ sung thêm lực lượng các giáo viên trẻ: Trần Lê Đang (vào năm 1965), Nguyễn Ngọc Ẩn, Võ Hai, Phạm Văn Khôi (vào năm 1966), Nguyễn Thiện Sanh (vào năm 1967). 

          Bộ môn với biên chế gồm các giáo viên trẻ, tốt nghiệp xuất sắc, có năng lực chuyên môn giỏi, đã đoàn kết giúp đỡ nhau bồi dưỡng nghiệp vụ, bám sát mục tiêu đào tạo, thực hiện phương châm “vừa học vừa làm” rất hiệu quả, tổ chức cho sinh viên học Trắc địa kết hợp phục vụ sản xuất, tiến hành ký nhiều hợp đồng với các địa phương trong công tác khảo sát, thiết kế, giám sát thi công các công trình thủy lợi, thành lập bản đồ các loại cho các địa phương trên toàn miền Bắc. 

          Trong giai đoạn này dù trong điều kiện thiếu thốn và vất vã nhưng với tinh thần “Tất cả vì tiền tuyến” Bộ môn đã góp phần đào tạo tốt đội ngũ kỹ sư Thủy lợi, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà Trường qua các hợp đồng sản xuất. 

          Bộ môn đã tổ chức viết và in giáo trình Trắc địa riêng phù hợp với mục tiêu đào tạo ngành Thủy lợi, đảm bảo sinh viên có đủ giáo trình học tập và máy móc, thiết bị Trắc địa thực hành.

          Năm 1975 sau khi đất nước thống nhất, bộ môn có một số biến động lớn về nhân lực: người chuyển công tác vào miền Nam, người đi phục vụ quân đội, người đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, một số cán bộ trẻ được bổ sung. Lúc đông nhất biên chế Bộ môn lên tới 8 người. 

          Năm 2007, Trung tâm Địa Tin học có quyết định chính thức được thành lập với nòng cốt là Bộ môn Trắc địa, có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đào tạo chuyên ngành Kỹ thuật Trắc địa- Bản đồ. Năm 2014 Trung tâm tuyển sinh khóa đầu tiên K54 ngành Kỹ thuật Trắc địa- Bản đồ.

          Tháng 6/2019: Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, Bộ môn Trắc địa được nhập vào Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước.

          Hiện nay Bộ môn có 11 giảng viên (trong đó có 2 giảng viên thuộc Cơ sở 2) bao gồm: 2 TS, 2 NCS Tiến sĩ và 7 Th.S., phụ trách đào tạo ngành Kỹ thuật Trắc địa – Bản đồ và giảng dạy các môn liên quan tới Trắc địa phục vụ đào tạo một số ngành Kỹ thuật trong Trường Đại học Thủy lợi.

III. Các thành viên bộ môn

1.      Các thành viên đang công tác và giảng dạy

 

 

 

Trưởng bộ môn

TS. Lã Phú Hiến

 

ThS. Đặng Đức Duyến

TS. Bùi Thị Kiên Trinh

 

 

 

 

 

 

ThS. Lại Tuấn Anh

 

 

 

 

 

 

ThS. Lã Văn Hiếu

 

 

 

 

 

 

ThS. Đỗ Xuân Dũng

 

 

 

 

 

 

ThS. Nguyễn Thị Cẩm Vân

ThS. Hoàng Lê Long

ThS. Bùi Ngọc An

 

 

 

2.      Các thành viên đã từng tham gia công tác và giảng dạy

TT

Họ và tên

Học hàm, học vị

Công tác từ năm

Ghi chú

1

Nguyễn Đồng Hợi

 

 

 

 

Đào Duy Liêm

 

1963

 

2

Nguyễn Thả

 

1963

 

3

Hoàng Xuân Thành

PGS. TS

 

 

4

Trần Văn Viện

TS.

 

 

5

 

 

 

 

6

 

 

 

 

7

 

 

 

 

8

 

 

 

 

9

 

 

 

 

10

 

 

 

 

11

 

 

 

 

12

 

 

 

 

13

 

 

 

 

14

 

 

 

 

15

 

 

 

 

16

 

 

 

 

17

 

 

 

 

18

 

 

 

 

 

 

3.      Các thành viên đang tham gia cộng tác với bộ môn

TT

Họ và tên

Học hàm, học vị

Công tác từ năm

Ghi chú

1

Đặng Tuyết Minh

TS.

 

Phó trưởng phòng Khảo thí và ĐBCL

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

V. Các đề tài nghiên cứu và các công trình sản xuất bộ môn đã đảm nhận

1. Các đề tài NCKH cấp Nhà nước

2. Các đề tài NCKH cấp Bộ

3. Các đề tài NCKH cấp Trường

4. Các công trình phục vụ sản xuất bộ môn đã đảm nhận:

          Bộ môn đã tham gia khảo sát địa hình, và các công tác trắc địa phục vụ thi công, vận hành nhiều công trình hồ đập như: công trình Hồ Sông Rác (Hà Tĩnh), Hồ Bảo Linh (Bắc Cạn), Hồ Suối Nứa (Bắc Giang), Hồ Gò Miếu (Thái Nguyên), Hồ Khe Sú (Quảng Ninh), trạm bơm Đặng Xá, trạm bơm Văn Thai, trạm bơm Hữu Bị, quan trắc đập thủy điện Hòa Bình, Quan trắc lún Đập đáy, trạm bơm Chùa Tổng, trạm bơm Liên Nghĩa  (Hưng Yên), Đập Bara Nam Đàn, Đập Bara Kỳ Hà, Đập ngăn mặn giữ ngọt Hộ Độ (Hà Tĩnh), Đập ngăn mặn giữ ngọt Thảo long (Huế) và rất nhiều công trình phục vụ sản xuất khác... 

VI.  Giáo trình và các ấn phẩm khoa học đã được xuất bản

1. 

VII. Hướng nghiên cứu của bộ môn

- Xử lý số liệu trắc địa: dữ liệu trắc địa truyển thống, dữ liệu ảnh UAV, ảnh vệ tinh, LiDAR, v.v…

- Ứng dụng viễn thám và GIS

- Quản lý, giám sát tài nguyên, môi trường

- Nghiên cứu các thuật toán trí tuệ nhân tạo, học máy và các dữ liệu tổng hợp-đa thời gian trong công tác dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai